THỐNG KÊ TRUY CẬP
Số người đang online: 24
Số lượt truy cập: 1107925
QUANG CÁO
Kỳ 7 - MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ CẦN NẮM VỮNG- Minh Chính 12/6/2010 7:45:53 AM
IV. ẨN DỤ

KỲ 7

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ  TIÊU BIỂU CẦN NẮM VỮNG

( SO SÁNH - NHÂN HOÁ - HOÁN DỤ - ẨN  DỤ )

IV.ẨN DỤ

1. Khái niệm:

Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm, hàm súc cho sự diễn đạt.

Ẩn dụ là cách lấy tên gọi của một đối tượng này để lâm thời biểu thị của một đối tượng  khác, trên cơ sở thừa nhận ngầm  một nét giống nhau nào đấy giữa hai đối tượng..

Thí dụ:

                Gìn vàng giữ ngọc cho hay

      Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.  - Nguyễn Du - Truỵện Kiều

Vàng, ngọc là những vật quý được ví ngầm với nàng Kiều để biểu lộ sự quý trọng của người nói (Kim Trọng) đối với tấm thân và cả phẩm giá của người yêu. Kẻ chân mây cuối trời cũng là một ẩn dụ, vì đây có sự khai thác những nét giống nhau trong cách so sánh ngầm giữa ý “ xa vời cô quạnh” của thành ngữ này với tấm lòng người nói là Kim Trọng sắp xa cách và cô đơn buồn nhớ người yêu...

Người ta gọi ẩn dụ là một lối ví ngầm, vì cấu tạo của nó có những điểm gần gũi  với so sánh như sau:

Về mặt nội dung(cấu tạo bên trong), ẩn dụ cũng giống so sánh ở chỗ phải rút ra nét cá biệt giống nhau giữa hai đối tượng vốn là khác loại, không cùng bản chất. Nét giống nhau là cơ sở để hình thành ẩn dụ, đồng thời cũng là hạt nhân nội dung của ẩn dụ.

Nhưng về mặt hình thức (cấu tạo bên ngoài) ẩn dụ khác so sánh ở chỗ chỉ công khai sử dụng một đối tượng (một về - đối tượng dùng để biểu thị) còn đối tượng được nói đến (đối tượng được biểu thị) thì giấu đi, ẩn đi, không phô ra như so sánh. Người nghe dựa vào quy luật liên tưởng những nét tương đồng và dựa vào văn cảnh để tìm ra cái đối tượng được nói đến, nhưng đã bị ẩn đi trong câu nói.

2. Các kiểu, dạng ẩn dụ th­ường gặp:

- Ẩn dụ hình thức (dựa vào sự tương đồng về hình thức giữa các sự vật, hiện tượng).
Thí dụ:              Về thăm nhà Bác làng sen,

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng - Nguyễn Đức Mậu
   
Lửa hồng - màu đỏ

- Ẩn dụ cách thức (dựa vào sự tương đồng về cách thức thực hiện hành động).

Thí dụ trên: Thắp - nở hoa

- Ẩn dụ phẩm chất ( dựa vào sự tương đồng về phẩm chất giữa các sự vật hiện tượng).

Thí dụ:       Anh đội viên nhìn Bác

                Càng nhìn lại càng thương

                Người Cha mái tóc bạc

                Đốt lửa cho anh nằm - Minh Huệ

 Người cha- Bác Hồ.

- Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác ( Dựa vào sự tương đồng về cảm giác).

Thí dụ: Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kỳ mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quảng. - Nguyễn Tuân

 (nắng) giòn tan-(nắng) to, rực rỡ

Đối tượng dùng để biểu thị và đối tượng được biểu thị có thể là cụ thể hoặc trừu tượng. Như vậy, trên lý thuyết, có thể có 4 dạng ẩn dụ:

Dạng 1: lấy đối tượng cụ thể biểu thị đối tượng cụ thể.

Dạng 2: lấy đối tượng cụ thể biểu thị đối tượng trừu tượng

Dạng 3: lấy đối tượng trừu tượng biểu thị đối tượng cụ thể

Dạng 4: lấy đối tượng trừu tượng biểu thị đối tượng trừu tượng.

Trong thực tế thường gặp hơn cả là hai dạng cấu tạo 1 và 2 bởi vì xu hưóng miêu tả thường là cụ thể hoá trừu tượng hoặc làm cụ thể hoá cái trừu tượng hoặc làm cụ thể hơn cái đã cụ thể.
Thí dụ:

              Chim bay tung cánh chim bay

       Ba mươi sáu triệu chim bầy gọi nhau - Tố Hữu
   
Hoặc:

Nhưng giữa bao nhiêu tối tăm dày đặc, ánh sáng vẫn ngời lên, ánh sáng của một tấm lòng thương người và yêu đời vô hạn. (Hoài Thanh - đọc “Nhật ký trong tù)

Vấn đề được đặt ra trong cấu tạo của ẩn dụ là: nhân tố nào khiến cho người tiếp nhận liên tưởng đến đối tượng bị dấu kín như người thông báo đã liên tưởng? Có hai loại nhân tố: nhân tố logic và nhân tố tâm lý-xã hội. Thử lấy câu ca dao sau đây để phân tích:

                Thuyền về có nhớ bến chăng,

                Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

Đứng về mặt logic, ta thấy quan hệ giữa người con trai và người con gái trong câu ca dao này có nét giống với quan hệ giữa thuyền và biển đó là quan hệ di động- cố đinh: Một bên thì đang ngược xuôi, đi lại; một bên thì đang đứng đấy đợi chờ bên kia. Do đó, cứ theo luận lý thông thường, người ta có thể giả định người con trai đang đi về và người con gái đang ở lại cũng giống như bất cứ quan hệ trong một cặp di động- cố định nào. Trong thực tế lựa chọn cặp nào còn do tâm lý xã hội, thói quen xã hội quy định. Ca dao đã chọn cặp di động-cố định thuyền-bến. Sử dụng như vậy dễ rung động lòng người, bởi vì theo thói quen suy nghĩ, liên tưởng của người bình dân Việt Nam xa xưa, hình ảnh “cây đa, bến cũ, con đò..” tồn tại như một dấu ấn quen thuộc, gần gụi. Vì vậy, khi đọc câu ca dao cổ này, người ta nghĩ ngay đến tấm lòng rất mực thủy chung của người con gái...

Như vậy, ẩn dụ không gọi thẳng lên đối tượng mà để người ta tự tìm đến đối tượng trong văn cảnh theo quy luật của logic, của tâm lý. Quá trình liên tưởng đến đối tượng đó là quá trình phân tích logic-tâm lý để xác nhận sự cần thiết phải dùng tên gọi mới đó trong văn cảnh. Bởi vậy, ẩn dụ là một cấu tạo ngôn ngữ hết sức mềm dẻo. Quy luật biểu hiện của nó là: câu nói về vẻ xa xôi, bóng gió nhưng lại rất gần, rất cụ thể; câu nói có vẻ vòng vèo, quanh co nhưng lại rất thẳng, rất thực; câu nói có vẻ kín đáo, không lộ liễu nhưng lại công khai, rất rõ ràng, câu nói không gọi thẳng tên đối tượng, nhưng lại nói rất nhiều về đối tượng đó. Tóm lại, đó là quy luật của một lối diễn đạt lấy cực nọ biểu hiện cực kia; lấy xa nói gần, lấy vòng nói thẳng, lấy kín nói hở, lấy ít nói nhiều. Cách tỏ tình trong câu ca dao sau đây thể hiện rất rõ quy luật diễn đạt của ẩn dụ:

Bây giờ mận mới hỏi đào

Vường hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa

Vường hồng có lối nhưng chưa ai vào

Nói xa (chuyện mận đào) nhưng lại rất gần(chuyện đôi ta), nói vòng kín đáo (lối vào vườn hồng) nhưng lại rất thẳng thắn, rất công khai (muốn tỏ tình và sẵn sàng tỏ tình)...

Ngoài giá trị hình tượng, giá trị chủ yếu của ẩn dụ là biểu cảm. Paul (Paolơ): “ Sức mạnh của so sánh là nhận thức, còn sức mạnh của ẩn dụ là cảm xúc”. Vì vậy, ẩn dụ  được dùng nhiều trong thơ ca. Tuy vậy, hiện nay ẩn dụ còn được dùng rộng rãi trong nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau, không những trong thơ ca, trong văn xuôi nghệ thuật mà cả trong phong cách chính luận nữa.

Thí dụ:

Đất nước Việt Nam chìm trong bóng đêm kéo dài hàng thế kỉ, bỗng bừng lên buổi bình minh của thời đại. (Lê Duẩn)

Tác giả không gọi thẳng tên chế độ thực dân phong kiến để nói, nhưng lại nói rất nhiều, rất sâu sắc về nó, lên án nó rất mạnh mẽ (bóng đêm), đồng thời qua ẩn dụ buổi bình minh, tác giả cũng lại nói rất nhiều, rất sâu sắc với tất cả niềm tin, sự ca ngợi về thời kỳ cách mạng mới do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo dưới ánh sáng của chủ nghĩa Lê nin.

Những điều phân tích về nội dung biểu hiện của ẩn dụ trên đây cho thấy chức năng của ẩn dụ không phải là định danh mà là biểu cảm. Tuy vậy không nên nghĩ rằng ẩn dụ chỉ tác động đến tình cảm, không tác dụng gì đến lý trí. Bởi vì bất cứ một sự so sánh nào, dù là công khai hay ngầm hiểu, bao giờ cũng gắn với cách nhìn, cách đánh giá của con người ta đối với các sự vật.

Thí dụ:

Đi chệch khỏi tính Đảng sẽ sa vào vùng bùn của chủ nghĩa cá nhân tư sản. - Trường Chinh

Khi dùng vũng bùn làm ẩn dụ để chỉ hệ tư tưởng và quan điểm tư sản thì đồng thời tác giả cũng phủ định, phê phán hệ tư tưởng và quan điểm tư sản.

Khi sử dụng ẩn dụ, nên chú ý những điểm sau đây:

a. Ẩn dụ là phương tiện biểu đạt, chứ không phải là mục đích của sự biểu đạt. Không có nội dung biểu đạt nào khác ngoài cái nội dung chứa đựng trong cái tên gọi bình thường của nó thì không nên dùng ẩn dụ. Không biến việc sử dụng ẩn dụ thành những lời văn sáo rỗng, không có nội dung. Mặt khác không biến ẩn dụ thành một câu đố. Phải làm sao cho người nghe, người đọc có thể trở lại được với cái giả thiết không nói ra của tác giả. Muốn vậy, như đã phân tích cấu tạo nội dung của ẩn dụ, phải tạo cho nó một cơ sở logic và cơ sở tâm lý chắc chắn.

b. Do được sử dụng khá rộng rãi, cho nên ẩn dụ cũng thuộc loại công cụ có thể biểu thị đặc trưng của phong cách thời đại, phong cách dân tộc, phong cách tác giả. tập “ Từ ấy” Tổ Hữu thường lấy những hình ảnh thiên nhiên tươi sáng, đẹp đẽ, ấm áp để làm ẩn dụ: nắng hạ, mặt trời chân lý (Từ ấy), tắm nắng xuân hồng (ý xuân), buổi xuân đào(Như những con tàu), mùi hương chân lý..vv.Những ẩn dụ này biểu thị lòng khát khao mãnh liệt với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa ở một chiến sĩ trẻ rất mực yêu đời...

Ca dao Việt Nam xưa thường lấy những hình ảnh quen thuộc của cuộc sống làng quê làm ẩn dụ, như: thuyền, bến, mận, đào. tre non, cau non...Những ẩn dụ trong ca dao thường mộc mạc, chân chất nhưng đượm tình.

Vì vậy người sử dụng ẩn dụ phải có ý thức làm sao cho ẩn dụ của của mình mang phong cách riêng và người khai thác ẩn dụ phải tìm cho được cái cốt lõi của những phong cách thời đại, phong cách dân tộc và phong cách tác giả.

c.Khi đưa ra một ẩn dụ, nếu có điều kiện nên tiếp tục phát triển để khai thác khả năng của ẩn dụ đó. Về mặt này, Nguyễn Du là một tài năng đặc biệt.

Thí dụ:

      Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông. - Truyện Kiều

Nhà  thơ nhận cảm từ hoa lựu một dấu hiệu tương ứng với lửa- màu đỏ chói chang, do đó có thể dùng lửa lựu. Hình ảnh này tác động vào thị giác của chúng ta và tiếp tục hoạt động theo quy luật tự nhiên của nó:Lửu lựu- lập loè đơm bông.

Mấy câu thơ sau đây của Tố Hữu ca ngợi Bác Hồ vĩ đại, cũng được viết với sự phát triển của các ẩn dụ theo quy luật tự nhiên của chúng:
            
                  Cứ nghĩ hồn thơm đang tái sinh,
   
                           Ngôi sao ấy lặn hoá bình minh,
         
                     Cơn mưa vừa tạnh Ba Đình nắng
   
                           Bác đứng trên kia vẫy gọi mình. - Theo chân Bác
   
Ngôi sao… lặn- hoá bình minh;
   
Cơn mưa tạnh - nắng... 
   
3.Luyện tập:

1. Chỉ ra các ẩn dụ và nêu ý nghĩa ẩn dụ trong các câu ca dao, câu thơ sau:

A.                Trăm năm đành lỗi hẹn hò

                                     Cây đa bến cũ con đò khác đ­ưa.

B.                Thuyền ơi có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

C.                Dưới trăng quyên đã gọi hè,

 Đầu t­ường lửa lựu lập loè đơm bông.

D.                Ơi con chim chiền chiện

                         Hót chi mà vang trời

                         Từng giọt long lanh rơi

                         Tôi đ­ưa tay tôi hứng

*Gợi ý :a) cây đa bến cũ - kỷ niệm đẹp

 con đò khác đ­ưa - cô gái đã đi lấy ngư­ời con trai khác làm chồng (đã thay đổi…)

*Gợi ý : b) thuyền - ng­ười con trai (người ra đi- di động)

 bến -  ngư­ời con gái (kẻ ở lại- cố định)

*Đặt trong quan hệ song song:thuyền - bến, những vật cần có nhau, luôn luôn gắn bó - so sánh ngầm      

*Gợi ý : c) lửa lựu -  mùa hè ( hoa lựu màu đỏ, nở vào đầu hè- ý nói mùa hè đang đến)

*Gợi ý : d) con chim chiền chiện -  cuộc sống mới

 hót - ca ngợi mùa xuân, đất nư­ớc, cuộc đời mới đầy sức sống đang trỗi dậy (tiếng reo vui của con người)

 giọt (tiếng hót- chuyển đổi cảm giác )- ca ngợi cái đẹp của sáng xuân cũng là cái đẹp của cuộc đời, cuộc sống

 hứng (tiếng hót- chuyển đổi cảm giác ) - sự thừa hưởng một cách trân trọng những thành quả cách mạng          

 

 

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Lê Trung Chính
Lê Trung Chính
Hiệu trưởng
ĐĂNG NHẬP

Tên đăng nhập
Mật khẩu
HÌNH ẢNH
LIÊN KẾT WEBSITE


TRƯỜNG THCS PHONG THỦY - HUYỆN LỆ THỦY - TỈNH QUẢNG BÌNH
Điện thoại: 052.3882654 * Email: thcsphongthuy@lethuy.edu.vn